Hợp tác kinh doanh, hay “cho thuê mặt bằng”

Hợp tác kinh doanh, hay “cho thuê mặt bằng”

23/01/2018 08:21
( Sang nhượng )Hợp tác kinh doanh, hay “cho thuê mặt bằng”Từ thư phản ánh của bạn đọc, chúng tôi đã thu thập hồ sơ liên quan đến quá trình hợp tác kinh doanh giữa Công Ty TNHH Bốn mùa Nha Trang (sau đây gọi tắt là Công Ty A) do ông Lê Xuân Thơm làm giám đốc và Công Ty TNHH TM Bốn mùa Gốc Nha Trang (sau đây gọi tắt là Công Ty B) do ông Huỳnh Quảng Khánh làm giám đốc. Hai công ty A và B đã hợp tác kinh doanh với nhau trong thời hạn 05 năm bằng các bản hợp đồng “Hợp tác kinh doanh”. Tuy nhiên sự “hợp tác” này mới đi được khoảng 1/3 (một phần ba) chặng đường thì đã có dấu hiệu trục trặc, có thể dẫn đến nguy cơ phải nhờ đến sự phán xử của pháp luật.
Để rộng đường dư luận, sau đây chúng tôi xin lần lượt phân tích từng bản hợp đồng. Tại bản hợp đồng “Hợp tác kinh doanh nhà hàng” ký ngày 09/02/2015, thì bên Công Ty A lấy mặt bằng và tài sản hiện có tại nhà hàng E-Lad Seasons ở phía đông đường Trần Phú – Nha Trang (vốn cố định) để góp vốn, còn Công Ty B góp vốn bằng chất xám về quản lý, kinh doanh và vốn lưu động. Công Ty B phải đóng 1,2 tỷ VND tiền cọc cho Công Ty A. Hàng tháng bên Công Ty B phải trả cho Công Ty A khoản tiền cố định, tháng đầu tiên 300 triệu VND/tháng, từ tháng thứ hai trở đi là 600 triệu VND/ tháng. Ngoài ra từ năm thứ 2 trở đi, Công Ty B phải chuyển trả cho bên Công Ty A 20% lợi nhuận sau thuế từ nhà hàng này. Đồng thời, Công Ty B phải tiếp nhận toàn bộ nhân viên đang làm việc tại nhà hàng và thực hiện mọi quyền lợi của họ theo quy định của Bộ luật Lao động.
Thông thường, khi hai bên đã ký một hợp đồng cùng hợp tác kinh doanh thì trước hết phải xác định sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Nghĩa là, lời cùng hưởng, lỗ cùng chịu, khó khăn cùng chia sẻ v.v… Vì thế, cái gọi là khoản tiền cọc 1,2 tỷ VND mà bên Công Ty B phải đóng cho đối tác của mình (bên Công Ty A), phải được hiểu như thế nào? Còn khoản tiền cố định (tức không thay đổi, không cần biết đến kết quả kinh doanh của Công Ty B) mà hàng tháng Công Ty B phải nộp cho Công Ty A 300 triệu rồi 600 triệu, theo chúng tôi đó là sự áp đặt vô lý, bất bình đẳng, không thể chấp nhận trong quan hệ cùng hợp tác kinh doanh. Trong hồ sơ mà chúng tôi hiện có, không thấy có biên bản xác định giá trị tài sản cố định mà bên Công Ty A góp vốn và đồng thời các tài sản mà công ty A bàn giao không đủ điều kiện để công ty B hoạt động sản xuất kinh doanh do đó công ty B buộc phải trả gần hết tài sản và mua sắm mới tài sản, trang thiết bị để tự kinh doanh làm nhà hàng. Vậy căn cứ vào đâu để từ năm thứ hai trở đi bên Công Ty A được hưởng 20% lợi nhuận sau thuế? Ai cũng biết, đã cùng hợp tác kinh doanh, thì phần thu về của các bên sẽ được tính theo tỷ lệ góp vốn, sau khi đã trừ mọi khoản chi phí. Cho nên, chúng tôi cho rằng khoản 20 % lợi nhuận mà bên Công Ty A được hưởng này cũng vô lý, bất bình đẳng và áp đặt.
Cũng với hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh như vậy, ngày 01/9/2015 Công Ty A lại ký hợp đồng với Công TyB hai bên cùng hợp tác kinh doanh khai thác khu massge (tầng hầm của nhà hàng E-Lad Seasons). Công Ty B phải đóng tiền cọc 300 triệu VND cho Công Ty A. Bên Công Ty A cũng góp vốn bằng tài sản cố định hiện có, bên Công Ty B góp vốn bằng năng lực quản lý kinh doanh (hóa mỹ phẩm, nhân lực…). Hàng tháng bên Công Ty B phải nộp cho bên Công Ty A một khoản tiềnvới mức 03 tháng đầu là 80 triệu/tháng, từ tháng thứ 4 trở đi là 100 triệu/tháng. Các khoản tiền mà bên Công Ty B phải nộp cho Công Ty A cũng là cố định, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của bên Công Ty B vân vân và vân vân.
Nhìn vào nội dung hợp đồng kiểu áp đặt, “chịt buộc” này, ai cũng thấy bên Công Ty B luôn phải “còng lưng kéo cày” để làm ra lợi nhuận, còn bên Công Ty A chỉ việc “ngồi mát” mà hưởng lợi. Và, như một tất yếu, rạn nứt giữa hai bên đã xảy ra khi bên Công Ty B chịu không thấu với các khoản thu “giời ơi, đất hỡi” mỗi tháng phải cống nạp cho cái gọi là bên “hợp tác kinh doanh” của mình. Theo Thông báo số 0612/TB ngày 06/12/2016 của Công Ty A, thì bên Công Ty B còn nợ Công Ty A tổng số tiền “cố định” và “lợi nhuận” hàng tháng khoản 3 tháng mặt bằng.
Khi được hỏi về quá trình cùng hợp tác kinh doanh nói trên, Giám đốc Công Ty B cho biết: “Thực ra công ty chúng tôi nhận chuyển nhượng hợp đồng từ Công Ty A và Công Ty TNHH Thương mại FBS. Trước khi chuyển nhượng hợp đồng cho chúng tôi, Công Ty thương mại FBS mới kinh doanh được 04 tháng đã vỡ nợ, để lại cho công ty chúng tôi phải gánh khoản nợ lương nhân viên và tiền điện, nước 650 triệu đồng. Ngay năm đầu tiên (2015) công ty đã phải gánh chịu thêm chi phí bất hợp lý là điện và nước mỗi tháng từ 80 đến 120 triệu đồng (do lỗi đường ống và đường dây). Mặc dù đã nhiều lần đề nghị Công Ty A xem xét lại, và hỗ trợ, nhưng họ mặc kệ. Chúng tôi đành phải bỏ tiền ra tự khắc phục nên tiền điện, nước hàng tháng đã giảm xuống chỉ còn từ 20 đến 40 triệu đồng. Một điều vô cùng bất hợp lý nữa là, giữa hai bên không có bất cứ một hợp đồng nào về việc khai thác bãi biển, nhưng hàng năm vẫn phải nộp tiền khai thác bãi biển. Năm 2016, công ty B đóng trực tiếp cho Phòng Quản lý đô thị Thành phố Nha Trang 75 triệu đồng/năm, nhưng vô lý thay công ty A bắt công ty B phải đóng hàng tháng 11 triệu đồng/ tháng, trong khi đó công ty A không có đầu tư trang thiết bị nào. Trong hợp đồng ghi là bên Công Ty A góp vốn bằng tài sản, nhưng họ không có gì cả, buộc công ty chúng tôi phải tự mua sắm, nhưng lại không được họ tính khấu hao như quy định của luật thuế. Còn với hợp đồng cùng hợp tác kinh doanh dịch vụ massge cũng vậy. Khi tiếp nhận, không thể hoạt động ngay được vì toàn bộ hệ thống thiết bị đã hư hỏng nặng, liên tục xảy ra sự cố, công ty nhiều lần yêu cầu bên Công Ty A nhanh chóng khắc phục, nhưng họ vẫn mặc kệ, nên sau 04 thángchờ đợi, bên công ty chúng tôi buộc phải tự khắc phục…”.
Vài nhận xét của phóng viên: Trong cơ chế thị trường việc các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh để phát huy cao nhất lợi thế của mỗi bên là việc bình thường. Tuy nhiên việc ký kết hợp đồng “hợp tác kinh doanh” hoàn toàn khác với hợp đồng “cho thuê mặt bằng và tài sản”. Trongvụviệc nói trên, rõ ràng nội dung của các bản hợp đồng được ký giữa Công Ty A và Công Ty B là loại hợp đồng cho thuê mặt bằng và thực tế trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, bên Công Ty A đã ứng xử như là bên cho thuê mặt bằng. Đó là sự thật không thể phủ nhận. Được biết, vào tháng 8/2014 Công Ty A đã ký một hợp đồng kiểu “hồn Trương Ba, da hàng thịt” này với Công Ty TNHH thương mại FBS, sau đó Công Ty TNHH thương mại FBS chịu không thấu phải “bỏ của chạy lấy người”. Năm 2015 Công Ty A lại hợp đồng tiếp với Công Ty B như đã nói ở trên. Điều đó chứng tỏ Công Ty A không đủ năng lực để kinh doanh, nên phải sử dụng “chiêu” cho thuê mặt bằng này và khỏa lấp bằng cái gọi là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ai cũng biết, khu đất mà nhà hàng E-Lad Seasons tọa lạc ở phía đông đường Trần Phú là khu đất “vàng”. Vì thế, một câu hỏi đặt ra là, tại sao biết rõ Công Ty A kinh doanh không nổi, mà UBND tỉnh Khánh Hòa lại không tổ chức đấu thầu công khai?
Hợp tác với nhau, khi “cơm không lành, canh chẳng ngọt”, thì tất phải xem xét lại mọi việc từ bước khởi đầu. Cả hai hợp đồng “Hợp tác kinh doanh” mà Công Ty A đã ký với Công Ty B đều vô lý, bất bình đẳng và mang tính áp đặt, như chúng tôi đã phân tích ở trên. Cứ lấy ngay việc trọng tâm, chủ yếu nhất của các bản hợp đồng là lợi nhuận (sau thuế) của Công Ty A để xem xét, đã thấy khó thực thi, vì không biết giá trị góp vốn thực tế của công ty này là bao nhiêu căn cứ vào đâu để tính tỷ lệ? Phải chăng, ngay từ đầu các hợp đồng mà hai bên ký với nhau đã là vô hiệu ?
Theo văn Nghệ Trẻ

bình luận

Facebook
Google +

Tin rao liên quan

BĐS bán
BĐS cho thuê
Sang nhượng
Tin đã lưu